Tititada Academy Logo
Tìm kiếm

Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng tới giá vàng

Điểm nhấn chính

- Giá vàng Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi giá vàng trên thế giới nói chung và các yếu tố vĩ mô nói riêng

- Thị trường vàng đã có một năm căng thẳng với rất nhiều cơn địa chấn khiến các nhà đầu tư đứng ngồi không yên.

Tìm hiểu cùng Tititada!

Vàng là kim loại quý được đánh giá cao vì vai trò nổi bật trong đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng. Việt Nam không đủ lượng vàng để đáp ứng yêu cầu trong nước của nó nên Ngân hàng Nhà nước thực hiện nhập khẩu vàng nguyên liệu từ quốc tế để sản xuất vàng miếng và thực hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy, giá vàng chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi diễn biến của giá trên thế giới.

Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu và giải quyết các yếu tố dẫn đến chênh lệch giá vàng vì nó cần thiết trong việc điều chỉnh chính sách nhằm ổn định giá vàng và ngăn chặn tình trạng đầu cơ.

Thị trường Vàng ở Việt Nam

Giá vàng đạt mức cao nhất mọi thời đại vào ngày 4/12 đạt 2,135 USD/ounce, cao hơn mức kỷ lục trước đó là 2,072 USD được ghi nhận vào tháng 8/2020. Tuy nhiên sau đó đã hạ nhiệt xuống còn 2,023 USD trong cùng ngày. Vàng miếng SJC bán ra trong nước cũng tăng sốc lên mức kỷ lục hơn 74 triệu đồng/lượng.

Nguồn: Internet

Điều này chủ yếu được thúc đẩy bởi kỳ vọng ngày càng tăng của các nhà đầu tư về việc cắt giảm lãi suất, giá trị đồng đô la giảm dần, và căng thẳng địa chính trị vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc.

Vàng từ lâu được coi là một loại tài sản truyền thống, giúp chống lại lạm phát và những bất ổn vĩ mô. Khi lạm phát làm giảm giá trị của tiền tệ, vàng là một công cụ lưu trữ giá trị an toàn. Đây có thể là lý do tại sao giá vàng tăng, ngay cả khi lãi suất tiếp tục neo cao.

Bên cạnh đó, xuất phát từ việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 12 “Sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản pháp luật quy định về việc triển khai nhiệm vụ quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước”, xuất hiện tin đồn người dân không được mua bán vàng miếng. Điều này khiến nhiều người cho rằng việc mua vàng miếng sẽ khó khăn. Do đó, họ tranh thủ mua để dự trữ với mong muốn sau này sẽ kiếm được lợi nhuận khi vàng tăng giá.

Bất chấp những dấu hiệu cho thấy lạm phát đang hạ nhiệt, nhiều nhà đầu tư vẫn tìm tới vàng như một sự bổ sung ổn định dài hạn cho danh mục đầu tư, đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế bất ổn và cơ hội đầu tư đang hạn chế do các doanh nghiệp đang ít đơn hàng, co cụm lại.

Những yếu tố khiến giá vàng biến động

Giá vàng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm chính sách tiền tệ, lạm phát, biến động tiền tệ, căng thẳng địa chính trị, lượng dự trữ, cung và cầu cũng như chi phí khai thác và tinh chế kim loại quý.

Vàng là một mặt hàng được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Ngoài việc là một kim loại quý, vàng còn được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực sản xuất, làm chất dẫn điện, vật liệu trong các thiết bị hỗ trợ sự sống, v.v. Vì vậy, mỗi năm khoảng 2,500,000 đến 3,000,000 kg từ việc khai thác vàng đều bổ sung thêm vào tổng trữ lượng vàng trên mặt đất tuy vậy, số lượng này vẫn thường không đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân trên toàn cầu. Nguồn cung thấp hơn so với nhu cầu sở hữu có thể đẩy giá vàng lên ngày càng cao hơn nữa. Hiện tại, người ta ước tính chỉ còn khoảng 20% số vàng còn lại tại các quặng khoáng sản kim loại và việc khai thác sẽ bị hạn chế dần trong tương lai, mặc dù con số này chưa chắc chắn. Nói tóm lại, nguồn cung và mưu cầu cũng tác động không ít tới sự tăng giảm giá vàng.

Vàng thường có mối quan hệ ngược chiều với lãi suất. Khi lãi suất tăng trong chu kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ, dòng tiền có thể chảy mạnh vào các tài sản có sinh lãi như trái phiếu và vàng là loại tài sản không sinh lãi nên sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn và bị rớt giá, và ngược lại, khi lãi suất giảm, vàng thường tăng giá.

Giá trị của đồng đô la Mỹ cũng thường có mối quan hệ ngược chiều với vàng. Khi đồng đô la suy yếu, giá vàng có xu hướng tăng và ngược lại.

Mặt khác, khi lạm phát cao, giá vàng có xu hướng tăng do các nhà đầu tư tìm kiếm tài sản trú ẩn an toàn để bảo vệ sức mua của mình và tránh sự suy yếu của các đồng tiền quốc gia như đồng đô la. Có thể hiểu rằng vàng đóng vai trò tài sản phòng ngừa lạm phát tiếp diễn và điều này đã được rất nhiều nghiên cứu cả trong nước và thế giới chứng minh.

Tương tự, khi căng thẳng địa chính trị hoặc bất ổn vĩ mô gia tăng điển hình như Xung đột Nga - Ukraine kéo dài thời gian qua vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại và gần đây là xung đột giữa Israel với Hamas, giá vàng có xu hướng tăng do nhà đầu tư thường tránh các tài sản rủi ro như chứng khoán và tìm tới các tài sản ổn định hơn như vàng.

Việc các ngân hàng trung ương tăng/giảm dự trữ vàng cũng có thể ảnh hưởng đến giá vàng. Bởi việc này tác động đến động lực cung và cầu tổng thể. Sự gia tăng nắm giữ vàng của NHTW, đặc biệt trong thời điểm kinh tế bất ổn, có thể thúc đẩy niềm tin vào vàng như một phương tiện lưu trữ giá trị.

Tuy nhiên, những mối tương quan này không phải lúc nào cũng đúng và giá vàng không phải lúc nào cũng tăng khi đối mặt với lạm phát hoặc bất ổn vĩ mô.

Điều gì thúc đẩy giá vàng trong năm 2023?

Chính sách tiền tệ của Mỹ thường có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị tài sản, bao gồm vàng. Bởi đồng USD giữ vị thế là đồng tiền dự trữ chính của thế giới, trong đó giá vàng cũng thường được tính bằng đồng USD (XAU/USD). Do đó, những thay đổi trong chính sách tiền tệ của Mỹ có thể tác động trực tiếp đến giá trị của đồng đô la và sau đó ảnh hưởng đến giá vàng.

Tính tới quý III/2023, dự trữ vàng ở Mỹ đạt 8,133 tấn, tương đương 489 triệu USD, theo sau là Đức với 3,353 tấn và Ý với 2,452 tấn. Trong khi Trung Quốc đứng thứ 6 với 2,192 tấn.

Bắt đầu quý I/2023, giá vàng tiếp tục tăng 7.9%, sau khi đã tăng 11.3% trong 2 tháng cuối năm 2022, đạt 1,969 USD/ounce trong bối cảnh lạm phát trên toàn thế giới còn neo cao, căng thẳng địa chính trị giữa Nga và Ukraine tiếp tục leo thang, sự sụp đổ của 2 ngân hàng ở Mỹ (SVB và Credit Suisse), và bất chấp Fed tăng lãi suất 2 lần, lợi suất trái phiếu kho bạc 10 năm của Mỹ vẫn theo xu hướng giảm. Ngoài ra, các NHTW cũng bổ sung thêm 228 tấn vàng vào dự trữ toàn cầu, là mức mua vào cao nhất trong quý đầu tiên kể từ năm 2000.

Quý II, giá vàng duy trì ở ngưỡng cao, vượt mốc 2,000 USD/ounce vào tháng 4 lần đầu tiên kể từ mức cao kỷ lục của tháng 8/2020, song chỉ giảm nhẹ xuống còn 1,920 USD/ounce.

Tới Quý III, vàng giảm 3.6% còn 1,849 USD/ounce. Điều này là do Fed tiếo tục tăng lãi suất trong đầu quý và giữ lãi suất cao kỷ lục trong hơn 20 năm ở mức 5.25% - 5.50%. Chỉ số DXY cũng tăng 4% lên mức 106 điểm. Trong khi tiêu thụ trang sức giảm nhẹ khi giá vàng còn cao. Tuy nhiên mức giảm này cũng không quá lớn và vàng vẫn đươc đánh giá hoạt động khá tốt, thậm chí tốt hơn trái phiếu.

Việc này cũng một phần nhờ xu hướng phi đô la hóa ở Trung Quốc, Nga và nhiều quốc gia mới nổi khác, khi muốn thoát khỏi hệ thống tài chính phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ và chuyển sang một hệ thống khác phù hợp hơn với mục tiêu chính trị của họ.

Điển hình như Trung Quốc, là người mua vàng lớn nhất trên toàn cầu trong năm 2023. Kể từ đầu năm, PBoC đã tăng lượng vàng nắm giữ thêm 181 tấn, lên 2,192 tấn (tương đương 4% tổng lượng dự trữ). Doanh số bán vàng miếng và tiền xu trong nước cũng tăng 30% so với cùng kỳ trong nửa đầu năm 2023, và vàng “nội địa” của Trung Quốc được giao dịch ở mức cao hơn vàng “quốc tế” và mức chênh lệch này là cao nhất từ trước đến nay.

Bắt đầu quý IV, vàng bật tăng hơn 7% khi chiến tranh giữa Israel và Hamas bất ngờ bùng nổ và kéo dài qua tháng 11. Mặc dù các số liệu cho thấy lạm phát ở Mỹ và châu Âu đang hạ nhiệt và dần về gần mức mục tiêu, và kể cả khi đồng đô la có lúc tăng mạnh, nhưng giá vàng vẫn xu hướng đi lên mạnh mẽ, cho thấy căng thẳng địa chính trị là lý do chính khiến tâm lý thị trường và niềm tin của nhà đầu tư bị lung lay mạnh. Điều này không chỉ thúc đẩy nhu cầu mua vàng tăng cao mà còn dẫn tới việc đầu cơ giá vàng (XAU/USD) tăng mạnh, với khối lượng giao dịch XAU/USD trong tháng 10 đạt 3.27 triệu đơn vị, cao nhất kể từ tháng 7/2022, và XAU/USD liên tục ở vùng “quá mua” kể từ tháng 10.

Khảo sát mới nhất của Hiệp hội Vàng Thế giới (WGC), 24% NHTW trên thế giới dự định sẽ tăng dự trữ vàng trong 12 tháng tới.

Kể từ tháng 11, các nhà đầu tư ngày càng tin rằng FED đã kiềm chế lạm phát thành công thông qua việc tăng lãi suất và có thể bắt đầu cắt giảm chi phí vay sớm nhất là vào tháng 3 năm 2024. Việc này sẽ khiến các tài sản sinh lãi kém hấp dẫn hơn. Do vậy mà lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm cũng đã giảm từ mức cao nhất trong 16 năm là 5% đạt được vào giữa tháng 10 xuống còn 4.1% vào ngày 7/12.

Ngoài ra, đồng đô la đã giảm 3% trong tháng 11 so với rổ sáu loại tiền tệ chính. Điều này khiến khiến các nhà đầu tư ngoài nước Mỹ mua vàng ít tốn kém hơn, từ đó thúc đẩy nhu cầu và giá. Nếu bạn bán một ounce vàng vào ngày 4/12 vừa qua, khi giá vàng chạm kỷ lục 2,135 USD, có thể bạn đã bán được ở ngay đỉnh với giá trị đồng đô la cao nhất. Nhưng nếu tính lạm phát vào giá vàng thì thực chất giá vàng đã đạt đỉnh vào năm 1980, khi nó tăng lên hơn 800 USD/ounce, trị giá khoảng 2,600 USD theo giá đô la hiện nay sau khi tính đến lạm phát.

Khi nhìn vào dài hạn, có thể thấy vàng thường được hưởng lợi từ những sự bất ổn lớn trên toàn cầu, mà không chỉ bị ảnh hưởng bởi lạm phát hay lãi suất, cũng là những kết quả biến động từ các sự kiện vĩ mô rộng lớn hơn. Trong đó, rủi ro địa chính trị là yếu tố lớn nhất ảnh hưởng tới nhu cầu và giá vàng. Nó không chỉ là Nga xâm chiếm Ukraine và những gì đang xảy ra ở Israel và Gaza, mà còn là căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, những lo ngại về những gì sẽ xảy ra ở Biển Đông hoặc về những gì Trung Quốc sẽ làm ở Đài Loan hay Hong Kong. Điều này khiến sự toàn cầu hoá dần trở nên rạn nứt và phân mảnh hơn, từ đó khuyến khích các NHTW, thường là ở các thị trường mới nổi, tích trữ vàng nhiều hơn. Thêm vào đó, kỳ vọng về việc cắt giảm lãi suất của Fed vào năm tới cũng gây áp lực giảm giá lên đồng đô la Mỹ… làm tăng thêm sức hấp dẫn của vàng.


Tititada - Đầu tư chứng khoán cùng chuyên gia

Tìm hiểu thêm và nâng cao kiến thức đầu tư chứng khoán. Quản lý rủi ro đầu tư hiệu quả cùng Tititada, chuyên gia đầu tư của riêng bạn.