Tititada Academy Logo
Tìm kiếm

Quốc hữu hóa doanh nghiệp và ngành công nghiệp

Quốc hữu hóa trái ngược với tư nhân hóa, là việc chính phủ nắm quyền kiểm soát một công ty hoặc một ngành công nghiệp. Hành động này có thể là kết quả của nỗ lực củng cố quyền lực của một quốc gia, hạn chế và kiểm soát quyền sở hữu nước ngoài đối với các ngành có tầm quan trọng đáng kể đối với nền kinh tế địa phương hoặc để hỗ trợ các ngành đang thất bại.

Quốc hữu hóa là một trong những rủi ro chính đối với các công ty nước ngoài do khả năng bị tịch thu tài sản mà có thể không nhận được khoản bồi thường nào. Rủi ro này tăng lên đối với các quốc gia có hệ thống chính trị không ổn định và nền kinh tế trì trệ hoặc suy thoái.

Mặc dù quốc hữu hóa hiếm khi xảy ra ở Việt Nam, nhưng thuật ngữ này thường phổ biến hơn ở các quốc gia phát triển như Mỹ. Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính, chính phủ Hoa Kỳ đôi khi phải cung cấp các gói cứu trợ nhằm kích thích nền kinh tế, nhất là củng cố lĩnh vực ngân hàng và ngăn ngừa các thảm họa kinh tế rộng hơn. Chính phủ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định tương lai của các ngân hàng. Quốc hữu hóa các ngân hàng thất bại thường là một trong những sự lựa chọn nhằm ổn định lại lĩnh vực này nói chung và nó luôn nhận được nhiều sự quan tâm của đông đảo mọi người.

Thế nào là quốc hữu hóa ngân hàng?

Quốc hữu hóa xảy ra khi chính phủ tiếp quản một tổ chức tư nhân. Các cơ quan chính phủ khi đó sẽ nắm giữ quyền sở hữu và kiểm soát của doanh nghiệp, các chủ sở hữu (hoặc cổ đông) trước đó sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ khoản đầu tư của họ.

Hành động đơn phương

Trong quá trình quốc hữu hóa, quyền sở hữu và quyền kiểm soát được chuyển giao cho chính phủ và đây thường là một quyết định đơn phương, nghĩa là chính phủ đưa ra quyết định chứ không phải từ hai phía. Ví dụ, chính phủ một quốc gia có thể đưa ra quyết định đơn phương nếu một ngân hàng có dấu hiệu hoặc đang phá sản và có thể gây ra hậu quả nghiệm trọng và tạo hiệu ứng tác động lan tỏa tới các lĩnh vực khác của nền kinh tế.

Tổn thất của các bên liên quan

Sau khi quốc hữu hóa, các chủ sở hữu trước đó không còn kiểm soát tài sản và sẽ mất quyền sở hữu; tuy một số cá nhân trong ban quản lý có thể tiếp tục giữ vị trí điều hành của họ trong công ty đó. Và nếu tài sản của công ty vẫn còn giá trị đáng kể, thì việc quốc hữu hóa có thể là một điều đáng sợ đối với các nhà đầu tư tư nhân, bởi họ có thể chịu một khoản tổn thất khá lớn.

Biện pháp tạm thời

Quốc hữu hóa ngân hàng có thể là một biện pháp mang tính tạm thời nhằm giữ ổn định cho ngân hàng đang trong tình trạng khủng hoảng về mặt tài chính và cần được “giải cứu”. Khi đó, chính phủ sẽ giành lấy quyền kiểm soát ngân hàng đó cho tới khi họ có thể tìm kiếm được một ngân hàng khác ổn định hơn để chuyển giao lại cho bên đó.

Thời gian sở hữu của chính phủ thường ngắn, và tài sản của ngân hàng thất bại kia sẽ được tư nhân hóa ngay sau khi được một ngân hàng khác mua lại. Đối với hầu hết người gửi tiền tại ngân hàng, động thái bảo vệ này mang lại sự an toàn và hiệu quả nhất định cho họ. Thay vì mất tiền khi một ngân hàng sụp đổ, họ có thể nhận được sự bảo vệ của chính phủ liên bang. Thường, bạn sẽ khó có thể nhận thấy việc ngân hàng bạn gửi tiền đang rơi vào khủng hoảng, bởi chính phủ luôn nổ lực để bảo vệ tài sản của bạn.

Quốc hữu hóa quy mô lớn

Hầu hết mọi người không cảm thấy băn khoăn hay thắc mắc về việc chính phủ can thiệp giải quyết một số vụ phá sản ngân hàng. Nhưng những cuộc tranh luận sẽ trở nên nóng hơn khi chủ đề này chuyển sang một chiều hướng quyết liệt hơn, chẳng hạn như quốc hữu hóa toàn bộ hệ thống ngân hàng hoặc một ngành khác, chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe.

Trên thực tế, quốc hữu hóa toàn bộ hệ thống ngân hàng là điều khó có thể xảy ra, nếu có thì chỉ là tạm thời và là một phần của kế hoạch giải cứu trong các sự kiện đặc biệt như khủng hoảng tài chính. Điều hành tất cả các ngân hàng là một việc cực kỳ khó và phức tạp đối với bất kỳ chính phủ quốc gia nào, ngay cả khi họ chỉ quốc hữu hóa một vài ngân hàng lớn nhất trong hệ thống.

Ở Mỹ, chỉ quốc hữu hóa các ngân hàng lớn nhất là một kịch bản đã từng được đề xuất trong cuộc khủng hoảng thế chấp nợ dưới chuẩn năm 2008, áp dụng cho các ngân hàng được coi là “quá lớn để sụp đổ”. Những ngân hàng này được cho là có thể tạo ra rủi ro rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu cũng như những người nộp thuế ở Hoa Kỳ lúc đó. Tuy nhiên, việc áp dụng một số biện pháp khác, chẳng hạn như ban hành các quy định quản lý như yêu cầu vốn cao hơn và giảm tỷ lệ đòn bẩy, cũng đã phần nào giúp giảm bớt những tổn thất tiềm năng nặng nề đi theo sau.

Tương tự, ngành chăm sóc sức khỏe là một ví dụ khác về sự ảnh hưởng của việc “bóc lột” tài chính và thiếu minh bạch, do vậy mà quốc hữu hóa được coi như một giải pháp tiềm năng dưới góc nhìn của một phần lớn người tiêu dùng và một số bộ phận trong cơ quan quản lý nhà nước.

Nhìn chung, quốc hữu hóa một ngành công nghiệp là một vấn đề gây tranh cãi ở nhiều quốc gia, nhưng nếu được các thế lực chính trị lớn chấp thuận và tạo điều kiện, nó vẫn có thể xảy ra.

Tác động của quốc hữu hóa

Quốc hữu hóa có thể gây ra một số tác động, và mỗi tác động đều có thể làm ảnh hưởng đến các bên liên quan theo những cách khác nhau.

Ban điều hành

Khi các ngân hàng bị quốc hữu hóa, một số người trong ban điều hành có thể được cho phép tiếp tục vị trí quan trọng của mình sau khi chuyển giao. Tuy nhiên, điều này có khả năng làm tăng rủi ro đạo đức hành nghề, khi mà các giám đốc điều hành này thực hiện các hành động gây rủi ro cho các bên liên quan do không đồng ý với việc ngân hàng của họ bị quốc hữu hóa.

Cổ đông

Các nhà đầu tư có thể phải chấp nhận chịu lỗ. Ví dụ điển hình nhất là giá cổ phiếu của công ty hay ngân hàng đó sẽ chịu áp lực tiêu cực và giảm mạnh, hoặc các trái phiếu không có bảo đảm sẽ bị vỡ nợ, nghĩa là ngân hàng mất khả năng thanh toán, và việc quốc hữu hóa có thể xóa sổ toàn bộ khoản trái phiếu đó và trái chủ sẽ là người lãnh các tổn thất mất vốn đầu tư đó.

Sự quản lý của chính phủ

Một số người cho rằng chính phủ không có đủ khả năng quản lý các tổ chức phức tạp và điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và doanh thu của công ty được tiếp quản. Trong khi đó, những người ủng hộ quốc hữu hóa cho rằng, các giải pháp của chính phủ có thể giúp cải thiện sức khỏe tài chính của ngân hàng, niềm tin của công chúng cũng như duy trì tăng trưởng cho toàn bộ ngành và nền kinh tế nói chung.

Ví dụ về quốc hữu hóa

Quốc hữu hóa tại Việt Nam

Năm 2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã tiến hành mua lại toàn bộ vốn cổ phần của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với giá 0 đồng/cổ phần sau khi thấy ngân hàng này bất thành trong việc tự tái cơ cấu. Theo đó, VNCB được quốc hữu hóa và nắm giữ 100% bởi NHNN và mất toàn quyền, lợi ích cũng như trách nhiệm pháp lý đối với các cổ đông hiện hữu của VNCB. NHNN cho rằng việc quốc hữu hóa ngân hàng này sẽ cho phép VNCB nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc triển khai tái cơ cấu cũng như thúc đẩy các hoạt động kinh doanh phát triển theo hướng an toàn, hiệu quả.

Ngoài ra, ngay sau đó, NHNN tiếp tục quốc hữu hóa lần thứ 2 đối với Ngân hàng TMCP Đại Dương, Ocean Bank, khi thấy hoạt động của ngân hàng này bộc lộ nhiều yếu kém và việc quản trị, điều hành ngân hàng vi phạm quy định của pháp luật. Cụ thể, ngân hàng đã gặp khó khăn trong việc tăng vốn điều lệ để đảm bảo mức vốn yêu cầu tối thiểu của NHNN cùng với những tổn thất tài chính nặng nề khác. Do vậy mà NHNN đã quyết định mua toàn bộ cổ phần của các cổ đông hiện hữu tại Ocean Bank nhằm chủ động trong việc tiếp tục tái cơ cấu ngân hàng, đảm bảo chi trả tiền gửi và ngăn sự tác động lây lan trong hệ thống các tổ chức tín dụng.

Quốc hữu hóa tại Hoa Kỳ

Trong quá khứ và cả hiện tại, Hoa Kỳ đã nhiều lần quốc hữu hóa một số công ty, thường là dưới hình thức cứu trợ mà chính phủ nắm quyền kiểm soát. Các gói cứu trợ dành cho Tập đoàn Bảo hiểm AIG năm 2008 và Công ty General Motors năm 2009 dẫn đã đến việc quốc hữu hóa, tuy nhiên trách nhiệm của chính phủ Hoa Kỳ trong việc kiểm soát này là rất ít. Chính phủ cũng quốc hữu hóa Continental Illinois National Bank (CINB) phá sản vào năm 1984 và cuối cùng bán nó cho Bank of America vào năm 1994.

Mặc dù hầu hết các hành động quốc hữu hóa của chính phủ Hoa Kỳ chỉ mang tính chất tạm thời, nhưng vẫn có một số trường hợp ngoại lệ. Ví dụ như Công ty Đường sắt Amtrak được chuyển giao cho chính phủ sở hữu sau khi một số công ty đường sắt phá sản vào năm 1971. Hay là, sau vụ tấn công khủng bố ngày 11/09/2001, ngành an ninh sân bay đã được quốc hữu hóa dưới sự quản lý của Tổ chức An ninh Vận chuyển Hoa Kỳ (TSA).

Tóm tắt:

- Khi quốc hữu hóa xảy ra, cơ quan chính phủ sẽ kết thúc quyền sở hữu và kiểm soát của doanh nghiệp, và các chủ sở hữu (hoặc cổ đông) trước đó có thể bị mất khoản đầu tư và thu nhập tiềm năng trong tương lai.

- Mục đích chính của quốc hữu hóa là nhằm bảo vệ người tiêu dùng có liên quan và ngăn chặn rủi ro bất ổn lan tỏa đến các công ty trong ngành hoặc các lĩnh vực khác trong nền kinh tế.


Tititada - Đầu tư chứng khoán cùng chuyên gia

Tìm hiểu thêm và nâng cao kiến thức đầu tư chứng khoán. Quản lý rủi ro đầu tư hiệu quả cùng Tititada, chuyên gia đầu tư của riêng bạn.

Bài viết liên quan