Tititada Academy Logo
Tìm kiếm

10 tác động phổ biến của Lạm phát

Việt Nam là một trong số ít những quốc gia có mức lạm phát trung bình 4-6% kể từ năm 2013.

Nguồn: Tititada

Việc phân biệt các ảnh hưởng của lạm phát tại thời điểm bình thường hay những tác động chỉ xuất hiệu lúc tỷ lệ lạm phát cao một cách bất thường là rất quan trọng. Bài viết sau đây sẽ phân loại các tác động quan trọng của lạm phát dưới góc độ của người tiêu dùng, nhà đầu tư và nền kinh tế.

1. Suy giảm sức mua

Suy giảm sức mua là tác động cơ bản nhất của lạm phát. Theo thời gian, sự gia tăng chung của giá cả sẽ làm suy giảm sức mua của người tiêu dùng; ví dụ 10,000đ ở thời điểm hiện tại chỉ mua được nửa ổ bánh mì thịt, trong khi 10 năm trước, với cùng số tiền, có thể mua được 1 ổ bánh mì thịt, hoặc thậm chí 2 ổ. Người tiêu dùng mất sức mua mặc dù lạm phát chỉ đang ở mức 2% đến 4%; họ chỉ mất nó nhanh gấp đôi ở một mức độ cao hơn.

Lạm phát đo lường sự gia tăng giá cả của rổ hàng hóa và dịch vụ đại diện cho tổng chi tiêu của người tiêu dùng trong một nền kinh tế. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là đại diện phổ biến nhất cho lạm phát.

2. Làm ảnh hưởng nặng nề đến người có thu nhập thấp

Người tiêu dùng có thu nhập thấp cần chi tiêu một tỷ lệ cao hơn trong tổng thu nhập của họ vào những hàng hóa thiết yếu hơn là người có thu nhập cao. Do đó, họ ít có khả năng chống lại sự suy giảm sức mua vốn có của lạm phát; cụ thể là không có đủ tiền để mua nhu yếu phẩm như thực phẩm và năng lượng - những mặt hàng không thể bỏ cũng không thể thay thế khi chúng tăng giá đột biến.

Nhà hoạch định chính sách và những người tham gia thị trường tài chính thường tập trung vào “lạm phát cốt lõi”, là chỉ số đo lường lạm phát mà không bao gồm giá của của thực phẩm và năng lượng – những mặt hàng có xu hướng biến động mạnh và vì thế ít phản ánh được xu hướng dài hạn của lạm phát.

3. Phòng ngừa giảm phát

Một trong những mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước là giữ lạm phát ở mức 4%, một tỷ lệ lạm phát khiêm tốn, không quá cao và cũng không quá thấp, trong dài hạn nhằm giữ mặt bằng giá cả chung ổn định và ổn định tỷ giá. Bởi vì một tỷ lệ lạm phát dương sẽ thúc đẩy các hoạt động thương mại, tạo một tấm đệm (hay mức tăng cho phép) trong trường hợp lạm phát bị ước tính quá cao, và chủ yếu là nhằm ngăn chặn sự giảm phát.

Giảm phát là sự suy giảm chung của giá cả có thể gây nhiều bất ổn hơn là sự gia tăng tương đương của lạm phát. Giảm phát có thể làm gia tăng chi phí vay nợ vì thu nhập của người đi vay sẽ có khả năng giảm cùng với giá cả. Bởi giảm phát là sự giảm giá chung của hàng hóa và dịch vụ, thường liên quan đến việc giảm cung tiền và tín dụng trong nền kinh tế, dẫn đến sự suy giảm trong tiêu dùng và thu nhập, cuối cùng dẫn đến sự vỡ nợ trên diện rộng và có thể gây ra sự sụp đổ trong hệ thống ngân hàng.

Do vậy, lý do thường được dùng để giải thích cho việc đặt mục tiêu lạm phát “khiêm tốn” là duy trì tiền lương ổn định ngay cả trong thời kỳ kinh tế suy yếu. Tỷ lệ lạm phát dương có thể cho phép “đóng băng lương” (hay ngừng tăng lương) thay vì cắt giảm lao động hay lương của họ. Do doanh nghiệp có thể có thu nhập tăng cao nhờ giá cả sản phẩm, dịch vụ tăng, nhưng để bù đắp cho sự suy yếu của đồng tiền, họ có thể giảm chi phí bằng cách ngưng tăng lương.

Lợi ích của lạm phát chỉ là bảo hiểm chống lại giảm phát cho đến khi giá cả vượt quá tỷ lệ thông thường hay mục tiêu, bởi vì lạm phát quá cao cũng có thể vượt khỏi tầm kiểm soát.

4. Đà tăng tự động được thúc đẩy khi đã ở mức cao

Theo thảo luận ở trên, lạm phát nhỏ có thể là dấu hiệu của một nền kinh tế lành mạnh. Nếu lạm phát là 2% trong năm trước và 2% trong năm nay, thì mọi người cũng có thể kỳ vọng lạm phát sẽ tiếp đạt mức 2% trong năm tới.

Nhưng khi tỷ lệ lạm phát tăng lên nhanh chóng và duy trì ở một mức cao, theo đó, kỳ vọng về lạm phát trong tương lại cũng dần tăng lên. Vì lạm phát kỳ vọng tăng lên, người lao động bắt đầu muốn một mức lương cao hơn và các doanh nghiệp thường phải chấp nhận những chi phí gia tăng đó bằng cách tăng giá cả các thành phẩm hay dịch vụ. Từ đó, vô hình chung tạo ra một vòng xoáy tiền lương – giá cả, dẫn tới lạm phát tăng nhanh chóng.

Trong kịch bản xấu nhất, chính phủ thiết lập sai các chính sách tiền tệ hay tài khoá để đối phó với lạm phát có thể gây ra tình trạng siêu lạm phát.

5. Lãi suất tăng

Chính phủ và ngân hàng trung ương luôn có động lực mạnh mẽ để kiểm soát lạm phát. Trên thế giới, chính sách tiền tệ đã được sử dụng để kiểm soát lạm phát trong nhiều năm qua. Khi lạm phát tăng cao tạo ra mối đe dọa đến mục tiêu lạm phát của NHTW (thường là 2% ở các quốc gia phát triển và 3%-4% ở các quốc gia đang phát triển), các nhà hoạch định chính sách có thể tăng mức lãi suất tối thiểu hiện hành, qua đó làm tăng chi phí vay mượn của nền kinh tế bằng cách giảm nguồn cung tiền.

Kết quả là, lạm phát và lãi suất sẽ có xu hướng di chuyển cùng chiều. Bởi với việc tăng lãi suất khi lạm phát tăng, NHTW có thể làm yếu đi sự sung sức của nền kinh tế hay mức độ chấp nhận rủi ro của nó, và những áp lực giá cả theo sau đó. Lúc đó, các khoản thanh toán dự kiến hàng tháng cho một khoản thế chấp mua nhà hay một trái phiếu doanh nghiệp sẽ có vẻ hơi cao. Trong khi đó, tỷ suất sinh lợi phi rủi ro của trái phiếu kho bạc mới phát hành sẽ có xu hướng tăng lên, mang lại lợi ích cho các khoản tiết kiệm.

6. Giảm chi phí trả nợ

Trong khi những người vay mới có khả năng đối mặt với mức lãi suất cao hơn khi lạm phát tăng, những người có khoản vay mua nhà thế chấp hoặc vay nợ khác với lãi suất cố định sẽ có lợi thế hơn khi trả nợ trong môi trường lạm phát. Đơn giản là những gì bạn chi trả hôm nay có giá trị thấp hơn giá trị mà bạn có được trong quá khứ. Ví dụ, khi bạn vay 10 triệu đồng với tỷ lệ lãi suất hằng năm 5%. Nếu lạm phát hằng năm tăng đáng kể lên 10%, mức giảm số dư nợ hàng năm được điều chỉnh theo lạm phát của bạn sẽ lớn hơn chi phí lãi vay của bạn.

Lưu ý rằng điều này không áp dụng cho các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh theo lãi suất thị trường, số dư thẻ tín dụng, hay là hạn mức tín dụng tài sản nhà ở, thường cho phép người cho vay tăng lãi suất để theo kịp lạm phát và tăng lãi suất của Fed.

7. Thúc đẩy tăng trưởng, việc làm trong ngắn hạn

Trong ngắn hạn, lạm phát cao có thể giúp nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Lạm phát leo thang không khuyến khích tiết kiệm, vì nó làm xói mòn giá trị của khoản tiết kiệm theo thời gian. Ngược lại, nó sẽ khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu và doanh nghiệp thực hiện đầu tư nhiều hơn.

Kết quả là, tình trạng thất nghiệp thường sẽ giảm trong giai đoạn đầu khi lạm phát leo thang. Ít nhất trong một khoảng thời gian, lạm phát cao sẽ thúc đẩy nhu cầu trong khi làm giảm chi phí lao động điều chỉnh theo lạm phát, từ đó tăng nhu cầu việc làm trong ngắn hạn.

8. Có thể gây ra suy thoái nặng nề

Vấn đề ở việc đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp, đó là việc chấp nhận lạm phát gia tăng kéo dài để bảo vệ việc làm có thể khiến kỳ vọng lạm phát tăng lên đến mức gây ra vòng xoáy lạm phát của tăng giá và tăng lương.

Khi lạm phát vẫn giữ đà tăng, Chính phủ và NHTW bắt buộc phải tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát. Do đó, tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên vì các doanh nghiệp bắt đầu đóng cửa do chi phí đầu vào tăng cao, gây gián đoạn sản xuất và cung ứng, và cuối cùng làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm lại hoặc thậm chí là rơi vào suy thoái.

9. Gây ảnh hưởng đến giá trị trái phiếu và cổ phiếu tăng trưởng

Thông thường, đầu tư trái phiếu mang lại rất ít rủi ro và luôn nhận được dòng thu nhập đều đặn với một lãi suất cố định. Lạm phát và đặc biệt là lạm phát cao có thể làm giảm giá trị của trái phiếu bằng cách hạ thấp giá trị hiện tại của các khoản lãi coupon, hay lợi tức, trong tương lai. Việc tăng lãi suất để đối phó với sự gia tăng của lạm phát sẽ đương nhiên làm tăng tỷ suất sinh lợi của trái phiếu. Lúc này, giá thị trường của trái phiếu được phát hành trước đây với lợi suất thấp hơn sẽ giảm xuống tương ứng, vì giá trái phiếu có mối quan hệ nghịch đảo với lợi suất trái phiếu.

Bên cạnh đó, các cổ phiếu tăng trưởng, nổi tiếng là rất nhạy cảm với lạm phát, bởi nhà đầu tư kỳ vọng cao vào sự tăng trưởng của công ty cũng như doanh thu, lợi nhuận của họ trong tương lai. Nhưng lạm phát tăng sẽ làm giảm giá trị của những dòng tiền doanh thu kỳ vọng đó, tương tự trái phiếu. Cổ phiếu công nghệ và tiêu dùng là những nhóm cổ phiếu cho thấy hiệu suất sụt giảm trong các giai đoạn lạm phát cao hoặc gia tăng trong quá khứ.

10. Thúc đẩy cổ phiếu bất động sản, năng lượng và cổ phiếu giá trị

Trong quá khứ, bất động sản luôn được xem là tài sản phòng ngừa rủi ro lạm phát, bởi chủ nhà có thể tự bảo vệ mình khỏi lạm phát bằng cách tăng tiền thuê, ngay cả khi lạm phát làm xói mòn chi phí thực, hay khoản phải thu, của các khoản thế chấp mua nhà có lãi suất cố định.

Trong khi giá hàng hóa cơ bản gia tăng có thể dẫn đến lạm phát tăng cao, thì hàng hóa cơ bản, đặc biệt là mặt hàng năng lượng, có xu hướng tiếp tục có hiệu suất tốt hơn, mặc dù điều đó có thể thay đổi khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại.

Trong thời kỳ lạm phát cao, thu nhập trong tương lai trở nên ít giá trị hơn và thu nhập hiện tại trở nên có giá trị hơn tương ứng. Vì cổ phiếu giá trị được đánh giá và định giá dựa trên thu nhập hiện tại của chúng, nên thời kỳ lạm phát gia tăng sẽ tốt hơn cho cổ phiếu giá trị so với cổ phiếu tăng trưởng.

Tóm tắt:

- Lạm phát là sự tăng mặt bằng giá cả chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian, tác động dễ thấy nhất của nó là làm suy giảm sức mua.

- Lạm phát dương có thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tuy nhiên lạm phát càng tăng cao có thể gây ra tình trạng suy thoái kinh tế nặng nề.

- Lãi suất và nguồn cung tiền là hai công cụ phổ biến mà các ngân hàng trung ương trên thế giới thường sử dụng để làm giảm áp lực của lạm phát.


Tititada - Đầu tư chứng khoán cùng chuyên gia

Tìm hiểu thêm và nâng cao kiến thức đầu tư chứng khoán. Quản lý rủi ro đầu tư hiệu quả cùng Tititada, chuyên gia đầu tư của riêng bạn.