Tititada Academy Logo
Tìm kiếm

SMEs tại Việt Nam: Khó khăn và chật vật (Phần 1)

Nội dung

    SMEs Tại Việt Nam: Khó Khăn Và Chật Vật


    Trong vài năm gần đây, những khoảng trống xuất hiện nhiều hơn trên các tuyến phố từng nhộn nhịp. Một cửa hàng đóng cửa. Một quán ăn sang nhượng. Những sự rút lui ấy diễn ra lặng lẽ, không ồn ào, nhưng đủ để nhận rằng  môi trường kinh doanh đang trở nên khắc nghiệt hơn với các mô hình nhỏ.

    Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) từ lâu được xem là lực lượng duy trì nhịp sống kinh tế, hiện diện ở hầu hết ngành nghề và gắn chặt với việc làm của hàng triệu lao động. Thế nhưng, khi sức cầu chững lại, chi phí vận hành tăng lên và dòng vốn trở nên khó tiếp cận, dư địa để các doanh nghiệp nhỏ xoay xở ngày càng thu hẹp và làn sóng thu hẹp và rút lui của doanh nghiệp nhỏ đang xuất hiện ngày càng rõ nét trong thời gian gần đây.


    Vai trò Và Vị Thế Của SMEs Trong Nền Kinh Tế Việt Nam

    SMEs giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm khoảng 97–98% tổng số doanh nghiệp, đóng góp xấp xỉ 45% GDP và tạo ra hơn 60% việc làm trên cả nước. Khu vực này hiện diện trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, từ thương mại, dịch vụ, sản xuất gia công đến nông nghiệp và logistics, qua đó giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động kinh tế.

    Tuy nhiên, phần lớn SMEs tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ, với quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm tỷ trọng lớn trong nhóm doanh nghiệp mới thành lập.  Nền tảng tài chính mỏng, cùng với hạn chế về năng lực quản trị và mức độ ứng dụng công nghệ, khiến khả năng chống chịu của khu vực này tương đối thấp. Điều này thể hiện qua việc khu vực SMEs chỉ nắm giữ chưa đến 30% tổng nguồn vốn của khu vực doanh nghiệp, trong khi dư nợ tín dụng dành cho SMEs năm 2024 ước khoảng 17,6% tổng dư nợ. Khi điều kiện thị trường kém thuận lợi, cấu trúc “vốn mỏng – chi phí cố định cao – khả năng tiếp cận vốn hạn chế” khiến SMEs chịu tác động sớm và rõ hơn.

    Trong các năm gần đây, xu hướng doanh nghiệp thu hẹp hoạt động và rút lui gia tăng. Theo số liệu thống kê, năm 2025 ghi nhận số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn đạt 114.4 nghìn, tăng 14.3% so với năm trước; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 35.9 nghìn, tăng 66.1%. Bình quân mỗi tháng có khoảng 18.9 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.


    So Sánh Với Các Quốc Gia Lân Cận


    Nhóm Tiêu Chí

    Tiêu chí

    Việt Nam

    Thái Lan

    Singapore

    Indonesia

    QUY MÔ

     

    Số lượng

    ~920,000

    ~3,200,000

    ~300,000

    ~65,000,000


    Cơ cấu

    ~98%

    ~90%

    ~99%

    ~99%

    ĐÓNG GÓP KINH TẾ

    Đóng góp GDP (%)

    ~45%

    34.9%

    ~48%

    ~61%


    Đóng góp Xuất khẩu (%)

    ~20%

    ~30%

    ~33%

    ~15%


    Khả năng tạo việc làm

    ~60%

    ~71%

    ~71%

    ~97%


    Tốc độ tăng Kinh tế số

    ~19%

    ~15%

    ~13%

    ~14%


    Khả năng tiếp cận vốn

    Đang cải thiện
    (Nghị định 20)

    Tốt (Bảo lãnh TCG)

    Rất tốt

    Tốt

    CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ

    Ưu đãi Thuế 

    Thuế suất 15-17% (thấp hơn mức 20% chung). Miễn 2 giảm 4 theo vùng.

    Miễn thuế cho 150,000 THB lợi nhuận đầu tiên. Bậc thuế 15-20%.

    Miễn thuế 75% cho 100,000 SGD lợi nhuận đầu. CIT thực tế rất thấp.

    Thuế khoán 0.5% doanh thu cho DN có doanh thu dưới 4.8 tỷ IDR.


    Tiếp cận tín dụng

    Quỹ phát triển SME (SMEDF) hỗ trợ lãi suất 2.5-4%.

    Hệ thống Bảo lãnh TCG bảo lãnh tới 70% dư nợ vay.

    Chương trình EFS: Chính phủ gánh 70% rủi ro nợ xấu.

    Tín dụng KUR: Lãi suất cực thấp (~6%/năm) do nhà nước bù lỗ.



    Nghị định 20/2026/NĐ-CP: Giảm 30% thuế TNDN cho SME có doanh thu dưới 50 tỷ VNĐ. Quỹ Phát triển SME cho vay lãi suất cố định 2-4%/năm.

    Thai Credit Guarantee (TCG): Bảo lãnh tới 70% giá trị khoản vay không cần tài sản thế chấp cho các SME nông nghiệp và du lịch.

    Enterprise Financing Scheme (EFS): Chính phủ chia sẻ rủi ro tới 70% với ngân hàng khi cho SME vay để mở rộng ra thị trường quốc tế.

    Tín dụng KUR: Lãi suất ưu đãi chỉ ~6%/năm dành riêng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ vùng sâu vùng xa.


    Tại Đông Nam Á, SMEs đều giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng mức độ đóng góp GDP, khả năng tham gia chuỗi giá trị và mức độ hỗ trợ chính sách có khác biệt đáng kể giữa các nước.

    Thái Lan có hơn 3.1 triệu SMEs, đóng góp khoảng 35% GDP (2023). Chính phủ Thái Lan triển khai ít nhất 32 chương trình hỗ trợ trong năm 2023 (ưu đãi thuế, tín dụng, đào tạo). Tuy nhiên, SMEs Thái Lan vẫn chủ yếu tập trung ở thị trường nội địa; tỷ lệ tham gia xuất khẩu được ước tính dưới 15% tổng kim ngạch, cho thấy dư địa cải thiện về năng suất và khả năng tham gia chuỗi giá trị vẫn còn lớn.

    Singapore có khu vực SMEs đóng góp khoảng 48% GDP và sử dụng khoảng 71% lực lượng lao động. Nước này nổi bật nhờ hệ thống chính sách hỗ trợ tương đối đồng bộ, đặc biệt ở chuyển đổi số và nâng cao năng suất. Tỷ lệ áp dụng giải pháp số trong SMEs đạt mức cao, khoảng 94.6% đã triển khai ít nhất một giải pháp số. Thách thức chính là nâng tỷ trọng giá trị gia tăng thông qua mở rộng ra thị trường quốc tế và tham gia sâu hơn vào các ngành có hàm lượng giá trị cao.

    Indonesia có quy mô SMEs rất lớn, khoảng 64 triệu MSMEs, chiếm 99% tổng số doanh nghiệp, tạo ra khoảng 97% việc làm và đóng góp xấp xỉ 60% GDP. Chính phủ Indonesia đẩy mạnh tín dụng vi mô (KUR, UMi) và chuyển đổi số cho SMEs; đến đầu 2022, khoảng 17.2 triệu MSMEs đã bắt đầu tham gia các nền tảng số. Dù vậy, thách thức về năng suất và chênh lệch hạ tầng giữa các vùng vẫn còn đáng kể.

    Xét trong bức tranh khu vực, SMEs Việt Nam không nằm ngoài xu hướng chung, nhưng đang chịu nhiều áp lực hơn do cấu trúc doanh nghiệp chủ yếu là quy mô nhỏ và nguồn lực hạn chế. Thực tiễn từ các nước trong khu vực cho thấy rằng kết hợp giữa chính sách hỗ trợ nhất quán, thúc đẩy số hóa và cải thiện khả năng tiếp cận vốn có thể giúp SMEs nâng năng lực cạnh tranh và tăng đóng góp vào nền kinh tế trong trung hạn.


    Vì Sao SMEs Việt Nam Gặp Nhiều Khó Khăn?


    Cầu tiêu dùng suy yếu, doanh thu sụt giảm

    Sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ hậu COVID-19, đà tăng của tiêu dùng trong nước bắt đầu chậm lại rõ rệt. Năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 9.2%, nhưng thấp hơn đáng kể so với mức tăng bình quân khoảng 11.5%/năm trong giai đoạn trước đại dịch. Sự chững lại này phản ánh xu hướng chi tiêu thận trọng hơn của người dân trong bối cảnh thu nhập tăng chậm và triển vọng kinh tế còn nhiều bất định. Đối với khu vực SMEs, đặc biệt là các mô hình kinh doanh phụ thuộc trực tiếp vào tiêu dùng hàng ngày, tác động là khá rõ rệt. Với quy mô nhỏ và khả năng đa dạng hóa thị trường còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp khó tìm được nguồn bù đắp khi doanh thu sụt giảm, khiến áp lực lên dòng tiền gia tăng nhanh chóng.

    Áp lực không chỉ đến từ thị trường trong nước. Cầu từ các thị trường xuất khẩu cũng suy yếu, tạo thêm khó khăn cho các SMEs hoạt động trong lĩnh vực sản xuất gia công. Một số doanh nghiệp trong ngành da giày và may mặc cho biết đơn hàng từ thị trường châu Âu giảm mạnh, có trường hợp mức giảm lên tới 70–80%, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất và thu hẹp quy mô hoạt động. Việc sức cầu suy giảm đồng thời ở cả kênh nội địa và xuất khẩu đã làm doanh thu của nhiều SMEs giảm đáng kể, qua đó tạo áp lực lớn lên dòng tiền và khả năng duy trì hoạt động trong ngắn hạn.


    Chi phí đầu vào gia tăng, biên lợi nhuận bị thu hẹp

    Trong khi doanh thu chịu áp lực suy giảm, chi phí kinh doanh của khu vực SMEs lại gia tăng, tạo sức ép lớn lên biên lợi nhuận vốn đã mỏng. Sau đại dịch, nhiều khoản chi phí đầu vào đồng loạt tăng, từ giá nguyên vật liệu và vận chuyển chịu tác động của lạm phát toàn cầu, đến chi phí lao động khi lương tối thiểu được điều chỉnh. Đặc biệt, chi phí mặt bằng tại các đô thị lớn tiếp tục duy trì ở mức cao, trở thành gánh nặng cố định khó cắt giảm.

    Đáng chú ý, dù sức mua suy yếu khiến nhiều cơ sở thu hẹp hoạt động, giá thuê mặt bằng thương mại không giảm tương ứng. Tại TP. Hồ Chí Minh, nhiều chủ nhà thông báo tăng giá thuê khoảng 10–15% từ đầu năm 2025. Bên cạnh chi phí vận hành, chi phí tài chính tiếp tục tạo áp lực. Trong năm 2022, lãi suất vay kinh doanh có thời điểm lên tới 12–13%/năm; sang năm 2023, dù lãi suất điều hành giảm, nhiều SMEs cho biết lãi suất vay thực tế vẫn quanh 9–10%/năm do khó tiếp cận các gói ưu đãi. Việc chi phí lãi vay, thuê mặt bằng và lao động tăng đồng thời, trong khi doanh thu không cải thiện tương ứng, đã khiến biên lợi nhuận của SMEs bị thu hẹp rõ rệt. Hơn 70% doanh nghiệp coi chi phí sản xuất – kinh doanh là thách thức lớn trong năm 2023; trong đó 92.7% ghi nhận giá đầu vào tăng và 87.5% phản ánh chi phí logistics leo thang. Với biên lợi nhuận mỏng, áp lực chi phí kéo dài đã làm suy giảm đáng kể khả năng chống chịu của khu vực SMEs.


    Dòng tiền hạn chế và rào cản trong tiếp cận vốn

    Một đặc điểm phổ biến của SMEs Việt Nam là dòng tiền kinh doanh mang tính ngắn hạn, phụ thuộc nhiều vào vòng quay vốn lưu động. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ vận hành dựa trên vốn tự có hạn chế, ít có quỹ dự phòng dài hạn. Trong bối cảnh đó, chỉ cần doanh thu giảm ở mức vừa phải cũng có thể khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản.

    Khi dòng tiền nội bộ không đủ đáp ứng nhu cầu hoạt động, nhiều SMEs tìm đến nguồn vốn vay từ bên ngoài, nhưng lại gặp phải các rào cản đáng kể trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng chủ yếu do thiếu tài sản đảm bảo, lịch sử tín dụng yếu và hồ sơ vay vốn phức tạp. Trong bối cảnh đó, các tổ chức tín dụng thường đánh giá rủi ro đối với SMEs ở mức cao, đặc biệt khi nợ xấu trong nền kinh tế có xu hướng gia tăng, dẫn đến xu hướng thận trọng hơn trong hoạt động cho vay. Thống kê cho thấy, mặc dù chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp, khu vực SMEs hiện chỉ tiếp cận chưa đến 20% tổng dư nợ tín dụng doanh nghiệp. NHNN cho biết tính đến hết tháng 6/2025, tín dụng toàn nền kinh tế đạt hơn 17.2 triệu tỷ đồng, trong đó tín dụng cho SME tăng 5.71%, chiếm 17.51% tổng dư nợ. Thực tế này đã tạo ra một vòng luẩn quẩn: DN không có vốn để mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh; từ đó dẫn đến lợi nhuận thấp và càng khó đáp ứng điều kiện vay vốn


    Hạn chế về quản trị và công nghệ làm giảm khả năng thích ứng

    Bên cạnh các yếu tố thị trường và tài chính, những hạn chế nội tại về quản trị và công nghệ cũng khiến nhiều SMEs Việt Nam khó thích ứng khi môi trường kinh doanh thay đổi nhanh. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ xuất phát từ mô hình hộ gia đình, quản lý dựa nhiều vào kinh nghiệm. Chủ doanh nghiệp thường kiêm nhiệm từ bán hàng, kế toán đến kiểm soát dòng tiền, trong khi đội ngũ quản lý trung gian mỏng và thiếu kỹ năng. Cách vận hành này phù hợp khi quy mô còn nhỏ, nhưng lại trở thành điểm yếu khi thị trường biến động và cạnh tranh gia tăng.

    Khoảng cách về ứng dụng công nghệ giữa SMEs và doanh nghiệp lớn ngày càng rõ nét. Chi phí đầu tư được xem là rào cản lớn nhất: khoảng 68% SMEs cho rằng các giải pháp quản trị hiện đại vượt quá khả năng tài chính của họ. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vẫn vận hành thủ công, thiếu hệ thống quản lý tồn kho, bán hàng hay dòng tiền bài bản. Điều này làm giảm năng suất, tăng thất thoát và khiến chi phí khó được kiểm soát hiệu quả.

    Khi người tiêu dùng chuyển mạnh sang các kênh trực tuyến, những SMEs chậm số hóa nhanh chóng rơi vào thế bị động. Không chỉ khó giữ khách, họ còn gặp hạn chế trong việc mở rộng quy mô hay tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng có giá trị gia tăng cao.


      Tuyên bố miễn trừ trách nhiệmTuyên bố miễn trừ trách nhiệm

      Bài viết này được cung cấp nhằm mục đích thông tin và tham khảo chung. Mặc dù đã cố gắng đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin và dữ liệu được trình bày, Tititada không chịu trách nhiệm pháp lý về bất kỳ sai sót hoặc thiếu sót nào có thể xảy ra. Bài viết không nhằm mục đích cung cấp lời khuyên tài chính, pháp lý, hoặc bất kỳ loại lời khuyên chuyên môn nào khác. Nếu bạn cần lời khuyên cụ thể, bạn nên tìm đến một chuyên gia hoặc cố vấn đáng tin cậy.

      Tititada
      Tải App Ngay
      hoặc truy cập tititada.com

      Tititada - Đầu tư chứng khoán cùng chuyên gia

      Đầu tư chứng khoán với số tiền bất kỳ, với trải nghiệm đơn giản, dễ dàng, dành riêng cho nhà đầu tư mới tham gia thị trường.

      Tích lũy

      Lãi suất hấp dẫn lên đến 7.5%

      Tìm hiểu thêm
      Tích lũy

      Cố vấn Robo AI

      Xây dựng danh mục đầu tư cá nhân hóa

      Tìm hiểu thêm
      Cố vấn Robo AI

      Đầu tư chứng khoán

      Với số tiền bất kỳ

      Tìm hiểu thêm
      Đầu tư chứng khoán

      Bài viết liên quan

      SMEs tại Việt Nam: Khó khăn và chật vật (Phần 2)

      SMEs tại Việt Nam: Khó khăn và chật vật (Phần 2)

      SMEs tại Việt Nam: Khó khăn và chật vật (Phần 2)

      27/01/26

      SMEs tại Việt Nam: Khó khăn và chật vật (Phần 1)

      SMEs tại Việt Nam: Khó khăn và chật vật (Phần 1)

      SMEs tại Việt Nam: Khó khăn và chật vật (Phần 1)

      26/01/26

      Luật hoá nghị quyết 42 – Tăng tốc xử lý nợ xấu

      Luật hoá nghị quyết 42 – Tăng tốc xử lý nợ xấu

      Luật hoá nghị quyết 42 – Tăng tốc xử lý nợ xấu

      11/07/25

      Hoán đổi nợ thành cổ phần và trường hợp tại Việt Nam

      Hoán đổi nợ thành cổ phần và trường hợp tại Việt Nam

      Hoán đổi nợ thành cổ phần và trường hợp tại Việt Nam

      02/07/25

      Tất tần tật về Trung Nam Group

      Tất tần tật về Trung Nam Group

      Tất tần tật về Trung Nam Group

      25/06/25

      Báo cáo ngành Chứng khoán

      Báo cáo ngành Chứng khoán

      Báo cáo ngành Chứng khoán

      12/06/25

      Backlog & Hiệu quả vận hành

      Backlog & Hiệu quả vận hành

      Backlog & Hiệu quả vận hành

      26/05/25

      Báo cáo phân tích lần đầu VPB

      Báo cáo phân tích lần đầu VPB

      Báo cáo phân tích lần đầu VPB

      15/05/25

      Chia tách doanh nghiệp: Phá vỡ để phát triển mạnh mẽ hơn

      Chia tách doanh nghiệp: Phá vỡ để phát triển mạnh mẽ hơn

      Chia tách doanh nghiệp: Phá vỡ để phát triển mạnh mẽ hơn

      27/04/25

      Thị trường bancassurance tại Việt Nam

      Thị trường bancassurance tại Việt Nam

      Thị trường bancassurance tại Việt Nam

      21/04/25

      Tình hình ngành cảng biển Việt Nam

      Tình hình ngành cảng biển Việt Nam

      Tình hình ngành cảng biển Việt Nam

      21/04/25

      Báo cáo phân tích lần đầu HPG

      Báo cáo phân tích lần đầu HPG

      Báo cáo phân tích lần đầu HPG

      15/04/25

      Báo cáo phân tích lần đầu PC1

      Báo cáo phân tích lần đầu PC1

      Báo cáo phân tích lần đầu PC1

      03/04/25

      Báo cáo phân tích lần đầu MWG

      Báo cáo phân tích lần đầu MWG

      Báo cáo phân tích lần đầu MWG

      06/03/25

      Báo cáo phân tích lần đầu VCI

      Báo cáo phân tích lần đầu VCI

      Báo cáo phân tích lần đầu VCI

      28/02/25

      Báo cáo phân tích lần đầu NLG

      Báo cáo phân tích lần đầu NLG

      Báo cáo phân tích lần đầu NLG

      18/02/25

      Xe điện - Xu hướng tất yếu và hành trình tăng trưởng

      Xe điện - Xu hướng tất yếu và hành trình tăng trưởng

      Xe điện - Xu hướng tất yếu và hành trình tăng trưởng

      22/01/25

      Sáng tạo nội dung cần thiết cho doanh nghiệp của bạn

      Sáng tạo nội dung cần thiết cho doanh nghiệp của bạn

      Sáng tạo nội dung cần thiết cho doanh nghiệp của bạn

      18/01/25

      Xu hướng ngành dược phẩm Việt Nam 2025-2030

      Xu hướng ngành dược phẩm Việt Nam 2025-2030

      Xu hướng ngành dược phẩm Việt Nam 2025-2030

      16/01/25

      Báo cáo phân tích lần đầu SSI

      Báo cáo phân tích lần đầu SSI

      Báo cáo phân tích lần đầu SSI

      09/01/25

      Visa và Mastercard: Thế lực thanh toán toàn cầu

      Visa và Mastercard: Thế lực thanh toán toàn cầu

      Visa và Mastercard: Thế lực thanh toán toàn cầu

      08/01/25

      Giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài là gì?

      Giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài là gì?

      Giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài là gì?

      06/01/25

      Báo cáo phân tích lần đầu PNJ

      Báo cáo phân tích lần đầu PNJ

      Báo cáo phân tích lần đầu PNJ

      06/01/25

      Cách mà nhà Glazer thâu tóm Manchester United

      Cách mà nhà Glazer thâu tóm Manchester United

      Cách mà nhà Glazer thâu tóm Manchester United

      25/12/24